Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Những câu chuyện li kỳ về loài thuồng luồng trong sử Việt

Trong văn hóa Việt, thuồng luồng thường được mô tả như một loài thủy quái hình rắn, có 4 chân, chuyên rình rập để kéo người xuống nước ăn thịt… Nỗi sợ thuồng luồng và tục xăm mình của người Việt Nỗi ám ảnh về loài thuồng luồng đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử Việt Nam. Thần thoại của người Việt từng đề cập đến cuộc chiến giữa Lạc Long Quân và loài thuồng luồng, nhưng sự xuất hiện chính thức của thuồng luồng trong sử sách có lẽ bắt đầu từ thời kỳ Hùng Vương. Tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại như sau: Thời Vua Hùng dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, đến thưa với vua. Vua nói: Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Như vậy, tục xăm mình của người Việt bắt nguồn từ nỗi sợ hãi loài thuồng luồng. T...

CHUYỆN ĐI SỨ XƯA

Phần 1: Chuyện tai tiếng của sứ bộ thời Lê. Xưa nay vẫn nên kể lại những câu chuyện xấu, những tấm gương xấu trước những gương tốt, việc hay để tự cảnh tỉnh vậy.  Cùng với bao câu chuyện đi sứ Trung Hoa lưu lại tiếng thơm muôn đời về tài năng đối đáp, bản lĩnh khí phách cũng như học thức uyên thâm khiến người phương Bắc phải nể phục như sứ bộ Mạc Đĩnh Chi, Giang Văn Minh, chuyện ly kỳ của sứ bộ Nguyễn Tự Cường, Vũ Trần Thiệu. Trái lại cũng có những việc để lại tai tiếng muôn đời hậu thế, làm nhục quốc thể chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, ích kỷ, tự cao của các sứ thần, khiến ngoại quốc chê cười. Để lại tiếng xấu về sau. Đó là chuyện sứ bộ của Nguyễn Tông Trụ và Thái Quân Thực thời Lê Sơ - Thái Tông Văn Hoàng đế.  Tháng Giêng năm Giáp Dần (1434), vua Thái Tông lên ngôi thay Lê Thái Tổ (1428-1433) băng hà trước đó. Để cho danh chính ngôn thuận việc lên ngôi của mình, nên “Ngày mùng 6, sai bọn Tuyên phủ sứ Nguyễn Tông Trụ, Trung thư hoàng môn thị lang Thái Quân Thực, ...

Niên hiệu của vua triều Lý mang ý nghĩa gì?

Điều khác biệt giữa các vua triều Lý và các triều vua khác là hầu hết niên hiệu các đời vua Lý đều dài đến 4 chữ.  Niên hiệu là danh hiệu của vị vua được đặt khi lên ngôi để thần dân trong nước gọi thay cho tên chính, đồng thời để tính năm trị vì. Theo các từ trong niên hiệu, người ta thấy niên hiệu bắt nguồn từ triết lý vương quyền trong Nho giáo, theo lý thuyết này, vua trị nước là do mệnh trời vì thế niên hiệu đều mang ý nghĩa tốt đẹp. Thời nhà Lý, trải 9 đời vua trị vì trong 216 năm (1009- 1225) dù ở ngôi dài ngắn khác nhau nhưng đều chọn niên hiệu cho riêng mình. Điều khác biệt giữa các vua triều Lý và các triều vua khác là hầu hết niên hiệu các đời vua Lý đều dài đến 4 chữ. Về nguyên tắc, niên hiệu được lựa chọn rất cẩn thận vì nó là danh hiệu của người đứng đầu quốc gia với quyền lực to lớn, do đó niên hiệu khi đọc lên nghe phải có ân vang và trong sáng, ý nghĩa gửi gắm những sự cầu ước, nói lên điềm lành và có sự gắn kết với triết lý vương quyền, thần linh; thí ...

Lịch sử, sự thật và sử học

Ai ai đều đã bằng câu hết Nước chẳng còn có Sử Ngư! Đó là hai câu thơ cuối cùng trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “Mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng, khi mà mọi người bị uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là người chép sử nước Vệ đời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “Trực tai Sử Ngư!” (Sử Ngư thẳng thay!). Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi, chúng ta vẫn như tê tái với nỗi đau của ông. Làm sao có thể sống trong một xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy hay xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt đến thế nào? Ngày nay, chúng ta đang sống trong một giai đoạn mà nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật là yêu cầu của nhân dân, của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, những nhà sử học phải tự hỏi rằng: “Sử bút” của mình đã thật nghiêm chưa, đ...

NHỮNG MẢNH SỬ RỜI

Những mảnh  sử  rời  gom  góp  một  số  bài  viết  và  dịch  lai rai  trong  hơn  mười  năm,  có  bài  rất  dài  như  nghiên cứu lục và sách Minh thực lục: Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV - XVII viết cả năm trời, có bài rất ngắn như Cắt vài lát sử ở chỗ trung tâm thế giới chỉ viết chừng một buổi, có bài được viết lúc tinh thần bực bội với lời lẽ hơi gay gắt như Bàn về địa danh Thất Châu Dương với một học giả Trung Hoa, nhưng bù lại cũng có những bài vui vẻ xuề xòa như Bia, miệng và sử. Những bài dịch có khi khởi từ bất chợt như một cách chia sẻ cùng nỗi niềm người trước như bút ký của học giả thời Đông Du, hoặc có khi về những nghiên cứu của tác giả nước ngoài để qua đó học hỏi như Tượng Quận vị trí khảo hoặc để thêm nguồn tư liệu như Dân tộc Kinh ở Quảng Tây. Đại thể, đối với tác giả, có thể coi đây là cuộc trải nghiệm rời rạc trong quá trình tự trau dồi qua sự tiếp ...

NGUỒN GỐC DANH XƯNG CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

                                                                                                                                                                                                                        Huỳnh Chương Hưng Lịch sử của Trung Quốc lâu đời, các triều đại trị vì cũng nhiều, việc đầu tiên phải làm của những vị sáng nghiệp ra triều đại, đó là xác lập quốc hiệu (danh xưng triều đại). Quốc hiệu là xưng hiệu của một quốc gia. ...